Trang chủ / Văn / Cảm Nghĩ / Cảm nhận về bài thơ vội vàng của xuân diệu

Cảm nhận về bài thơ vội vàng của xuân diệu

Đề bài: Cảm nhận về bài thơ vội vàng của xuân diệu

      “Yêu là chết ở trong lòng một ít”… (“Yêu- Xuân Diệu).

Hơn ai hết, Xuân Diệu- thi sĩ tiêu biểu của dòng thơ mới, thi sĩ hết lòng yêu đời, yêu người, yêu cuộc sống mới hiểu được ý nghĩa của cái “chết trong lòng một ít” của tình yêu. Bởi vậy, càng say mê yêu ông lại càng lo sợ, càng lo sợ ông lại càng muốn tham lam chiếm hữu, muốn sống vội, sống hết mình, yêu hết mình. Đó là tư tưởng xuyên suốt các tác phẩm ông viết trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, ví dụ tiêu biểu nhất là bài thơ “Vội vàng”.

       Hồn thơ Xuân Diệu hồn nhiên yêu đời, yêu cuộc sống, say mê với cái đẹp, nhạy cảm với sự trôi chảy của thời gian. Nhưng càng yêu say, càng sống say, Xuân Diệu lại càng sợ cuộc sống, sợ tình yêu và những gì tươi đẹp sẽ bỏ mình và bay đi mất. Cũng vì vậy mà ông tham lam  muốn làm mọi cách để gìn giữ, chiếm đoạt những điều tốt đẹp, thậm chí là muốn điều khiển cả thiên nhiên:

Tôi muốn tắt nắng đi

Cho màu đừng nhạt mất

Tôi muốn buộc gió lại

Cho hương đừng bay đi”

  Nhà thơ sử dụng các động từ mạnh như “tắt” “buộc” cùng với điệp ngữ “tôi muốn” thể hiện khao khát mạnh mẽ, mãnh liệt đến điên cuồng. Nói là khao khát nhưng lại cũng giống như đang ra lệnh vậy.  Những từ ngữ ấy thể hiện một cái tôi cá nhân đầy tham vọng, khao khát đạt quyền của tạo hóa, cưỡng lại quy luật của tự nhiên, những vận động của đất trời. Ông muốn “tắt nắng” muốn “buộc gió”, đó là những ước muốn không tưởng!  Bởi ông hiểu rằng, sắc thắm nào rồi cũng nhạt, hương nồng nào rồi cũng phai. Thi sĩ yêu thiên nhiên, yêu sự trẻ trung, yêu cuộc đời tươi đẹp, vì vậy càng không muốn những vẻ đẹp tự nhiên của đất trời mất đi. Bởi nó quá đẹp nên nhà thơ càng muốn lưu giữ nó bên mình để được thưởng thức một cách trọn vẹn, mãi mãi:

“Của ong bướm này đây tuần tháng mật

Này đây hoa của đồng nội xanh rì

Này đây lá của cành tơ phơ phất

Của yến anh này đây khúc tình si

Và này đây ánh sáng chớp hàng mi

Mỗi sáng sớm thần vui hằng gõ cửa”

Dưới đôi mắt của người thi sĩ, mọi sự sống quen thuộc quanh 66 bỗng trở nên vô cùng hấp dẫn, mới lạ. Cảnh thiên nhiên trong thơ Xuân Diệu hiện ra như một khu vườn ngập tràn hương sắc thần tiên, như là ở một cõi nào xa lạ, chứ không phải là của cõi trời trần tục này. Cũng vẫn là thiên nhiên non nước ngàn năm ấy thôi nhưng Xuân Diệu phát hiện ra bao vẻ đẹp bất ngờ, đáng yêu say đắm. Bởi trong mắt của kẻ si tình, bất cứ thứ gì cũng trở nên đẹp đẽ khác thường. Trong đôi mắt tình yêu ấy, cảnh sắc mùa xuân càng thêm tươi đẹp khi khoác lên mình cái “xanh rờn” của cây lá, cái ngọt ngào của “ tuần tháng mật” ong bướm quấn quýt, cái lãng mạn “lơ phơ” mơn mởn, non nớt của “cành tơ phơ phất”; lại được điểm thêm tiếng ríu rít của yến anh vui tươi, nhộn nhịp. Đặc biệt, cảnh xuân, tình xuân lại càng thêm đượm sắc, nên thơ khi hòa quyện với vẻ đẹp của con người. Hình ảnh con người không xuất hiện trực tiếp nhưng qua câu thơ:

“Và này đây ánh sáng chớp hàng mi

Mỗi buổi sớm thần vui hằng gõ cửa”

Mùa xuân vốn đã đẹp, đã thơ mộng rồi, nay còn được tô điểm bằng ánh sáng “chớp hàng mi”, phải chăng đây là ánh sáng bình minh buổi sớm, khiến hàng mi khẽ giật mình, thức tỉnh trong  tiếng gõ cửa của thần vui, báo hiệu một ngày mới ngập tràn hạnh phúc? Cách sử dụng những từ  “này đây” san sát nhau đã phô diễn sự phong phú dường như bất tận của thiên nhiên, nhà thơ như thể đang bày ra từng thứ một, bày ra một khu vườn địa đàng ngay giữa chốn trần gian , một thiên đường vô thực nằm ngay trên trần thế, khiến thi sĩ phải thốt lên:

“Tháng giêng ngon như một cặp môi gần”

 Có người nói tháng giêng đẹp, tháng giêng vui, còn Xuân Diệu lại thấy “Tháng giêng ngon như một cặp môi gần”. Thường thấy văn học trung đại lấy thiên nhiên làm chuẩn mực cho vẻ đẹp của con người, còn Xuân Diệu thì lại lấy vẻ đẹp của con người ở giữa tuổi xuân và tình yêu làm chuẩn mực cho cái đẹp. Thơ xưa ngụ cảnh tả tình, hiếm khi nói đến những biểu tượng của các vị giác,  còn Xuân Diệu đã không ngần ngại trộn lẫn và huy động tất cả mọi giác quan của mình để thưởng thức được trọn vẹn những vẻ đẹp của thiên nhiên. Có thể khẳng định rằng, cách so sánh của Xuân Diệu là “mới nhất trong các nhà thơ mới” , độc đáo nhất, táo bạo nhất mà trước Xuân Diệu chưa nhà thơ nào tìm ra, sau Xuân Diệu cũng chưa ai sánh kịp!

Vì mùa xuân quá đẹp, quá “ngon”, quá hấp dẫn nên mới khiến nhà thơ “sung sướng” tận hưởng:

“Tôi sung sướng nhưng vội vàng một nửa

Tôi không chờ nắng hạ mới hoài xuân”

Tận hưởng đấy, sung sướng đấy, nhưng cũng lo âu đấy. Ông “vội vàng một nửa” vì nhận ra mình càng phải nên tận hưởng, không muốn để lỡ dù chỉ một phút giây, bởi ông hiểu rằng:

“Xuân đang đến nghĩa là xuân đang qua

Xuân còn non nghĩa là xuân đã già”

Lần đầu tiên xuất hiện một nhà thơ dám khẳng định cái tôi, nhận định của bản thân bằng những câu thơ định danh như vậy! Điệp ngữ “nghĩa là”vang lên khô khốc diễn tả một bi kịch trong tâm hồn con người không cách gì níu giữ được thời gian đang trôi qua. Nỗi nối tiếc vì ngày vui ngắn ngủi qua mau đó, với Xuân Diệu là đau đớn đến tột cùng. Bởi vì nhà thơ cho rằng mình sẽ chết đi cùng với mùa xuân khi mà vẻ đẹp của cuộc đời không còn nữa:

“Mà xuân hết nghĩa là tôi cũng mất”

Chính cái ý thức thời gian xuôi chảy một dòng, một đi không trở lại, thời gian là tuyến tính chứ không phải tuần hoàn, định lượng chứ không phải định tính đã chi phối cái nhìn cuộc đời của Xuân Diệu. Do chưa có cái nhìn biện chứng về thời gian nên Xuân Diệu thấy thời gian là một dòng suy biến và tàn phai, ở cuối con đường là sự già nua và chết chóc. Thời gian lấy đi của con người tuổi trẻ và tình yêu mang trả con người tuổi già và cái chết. Ý nghĩ đó khiến nhà thơ có cảm nhận như thể đất trời như cũng đối kháng với con người.

“Lòng tôi rộng nhưng lượng trời cứ chật

Không cho dài thời trẻ của nhân gian”

Nhà thơ chua xót thừa nhânn rằng, đời người thì hữu hạn mà thời gian thì lại vô cùng. Tâm hồn con người ta cứ mãi trẻ trung, cứ đầy khao khát nhưng thể xác thì phải già nua theo ngày tháng, không thể nào cứ qua đi rồi lại vòng trở lại như mùa xuân. Thế nên:

“Nói làm chi rằng xuân vẫn tuần hoàn

Nếu tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại

Còn trời đất nhưng chẳng còn tôi mãi”

Nên bâng khuâng tôi tiếc cả đất trời”

Kẻ si tình buồn biết bao nhiêu khi bắt buộc phải thừa nhận cái bi kịch khủng khiếp ấy của kiếp người. Chính vì sợ ngày vui ngắn ngủi qua mau, sợ vẻ đẹp sẽ tàn phai nên toàn bộ thiên nhiên tươi sáng ở trên kia đến đây cũng mất dần tính tự nhiên, vô tư của nó. Xuân Diệu dường như cảm nhận được mùi vị của tháng năm, nhưng đó là mùa vị đem đến cho nhà thơ sự nuối tiếc xót xa “vị chia phôi”. Những hợp âm rì rào nghe như lời than thầm vang lên khắp sông núi. Cả đến cơn gió xinh cũng dỗi hờn, chim chóc cũng “đứt tiếng reo thi” vì sợ “độ tàn phai sắp sửa” :

“ Mùi tháng, năm đều rớm vị chia phôi

Khắp sông, núi vẫn than thầm tiễn biệt

Con gió xinh thì thào trong lá biếc

Phải chăng hờn vì nỗi phải bay đi

Chim rộn ràng bỗng đứt tiếng reo thi

Phải chăng sợ độ phai tàn sắp sửa”

Thật đúng như đại hào Nguyễn Du từng viết:

“Cảnh nào cảnh chẳng đeo tình

Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”

Khi tâm hồn thi sĩ buồn bã, lo sợ phải chia ly, đến cả cảnh vật xung quanh cũng bị phủ lên màu thê lương, day dứt. Đến cả chim muông đang cất tiếng xuân rộn ràng cũng đột nhiên “đứt” tiếng, con gió xinh cũng hờn giận vì phải xa lìa, vấn vương cành lá biếc chẳng muốn bay đi. Hồn thơ buồn trải rộng ra cảnh vật, cảnh vật buồn lại tác động ngược trở lại khiến tâm hồn thêm bâng khuâng, sầu thảm. Bởi thế kẻ si tình mới thốt lên một tiếng thở dài ngao ngán:

“Chẳng bao giờ,  ôi! chẳng bao giờ nữa”

Vì nhận thấy sự nghiệt ngã của thời gian nên nhà thơ lại dậy lên một nỗi khát khao sống hết mình, trọn vẹn. Chính trái tim trẻ tuổi, yêu đời, tràn đầy nhiệt huyết đã không cho phép nhà thơ buông xuôi, phó mặc. Nhà thơ như giục giã chính mình 

“Mau đi thôi ! mùa chưa ngã chiều hôm”.

Nhà thơ muốn tận hưởng cuộc sống, tận hưởng những vẻ đẹp của đất trời khi nó còn đang trong độ xanh tươi mơn mởn:

“Ta muốn ôm

Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn

Ta muốn riết mây đưa và gió lượn

Ta muốn say cánh bướm với tình yêu

Ta muốn thâu trong một cái hôn nhiều

Và non nước và cây và cỏ rạng”

Điệp ngữ “ta muốn” một lần nữa được láy lại dồn dập để bày tỏ một khát khao lớn lao muốn ôm cả sự sống vào lòng. Nhưng ở đoạn thơ này, khao khát của nhà thơ đã trở nên mãnh liệt đến cháy bỏng, đến cuồng dại. Không còn chỉ là muốn chiếm đoạt đơn thuần, mà là muốn nhiều, muốn sâu, muốn say, muốn hòa mình vào bất diệt. Để:

“Cho chếnh choáng mùi hương, cho đã đầy ánh sáng

Cho no nê thanh sắc của thời tươi”

Đó là một tình yêu nồng nhiệt tới tột độ đối với cuộc sống. Tình yêu ấy đã xua tan đi cái ủ rũ u sầu, làm sống lại cái sinh khí vốn có của một chàng trai trẻ. Càng lo sợ bao nhiêu, lại càng khao khát bấy nhiêu; càng buồn sầu bao nhiêu, càng vội vàng muốn sống, muốn hưởng thụ cho nhanh, cho no nê, cho thỏa thích. Càng say đắm thì lại càng sợ đánh mất, càng sợ đánh mất thù lại càng khát khao chiếm đoạt, thậm chí muốn tham lam mà ngấu nghiến:

“Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi!”

Sắc hồng trong tâm hồn thi sĩ không chỉ là màu thơ mộng của mùa xuân, mà còn là sắc tươi đẹp của tuổi trẻ. Mùa xuân của thiên nhiên, mùa xuân của đời người đẹp đến mức, hấp dẫn đến mức không chỉ khiến nhà thơ cảm thấy “ngon” mà còn ngọt “như một cặp môi gần” người thiếu nữ, thúc giục kẻ si tình khát khao được chạm, được cắn, được thỏa thuê chiếm đoạt.  

    “Vội vàng” là một trong những kiệt tác của “nhà thơ mới nhất trong những nhà thơ mới” Xuân Diệu. Cái mới của ông thể hiện ở cái khát khao được làm chủ thiên nhiên, làm chủ cuộc sống; khát khao được sống mãi, sống hết mình với tuổi trẻ; khát khao thể hiện cái tôi cá nhân mãnh liệt, cái tôi tha thiết yêu đời yêu người. Đồng thời, tác phẩm cũng truyền đạt tư tưởng sống đầy nhiệt huyết, cháy hết mình đáng để thế hệ trẻ ngày nay học hỏi và phát huy.

tracnghiem.hochoi.net - Trắc Nghiệm Vui

Có thể sử dụng ctrl + F để copy code nhanh hơn nhé!

Chủ bút: Học Hỏi NetWork

Học Hỏi NetWork | Kho tàng kiến thức cho các bạn.

Trả lời